![]() |
Nhiều doanh nghiệp khi sắp đàm phán mới gõ cửa các cơ quan xúc tiến
thương mại để nhờ dò hỏi thông tin về đối tác. Trong khi để có thể phân
tích kỹ lưỡng các thông tin như thế đòi hỏi phải có một khoảng thời gian
nhất định. Chính vì vậy, chúng ta thường không hiểu được tâm lý và các
hành vi cư xử của đối tác.
Đó là chưa kể việc lựa chọn người tham gia đàm phán cũng chưa được thực
hiện một cách kỹ càng và không thật sự xuất phát từ yêu cầu thực tế của
quá trình thương thuyết, mà còn mang tính chiếu lệ, cho đầy đủ ban bệ.
Việc thay đổi trưởng nhóm thương thuyết một cách bất ngờ, không có lý do
chính đáng cũng có thể gây tâm lý không thoải mái, nghi ngại cho phía
đối tác nước ngoài trong suốt thời gian còn lại của quá trình đàm phán.
Người viết bài này đã có dịp làm việc cho chủ tịch một công ty nước
ngoài khi ông đến Việt Nam để đàm phán với ba đối tác. Qua trò chuyện,
ông cho biết là đã tìm hiểu khá kỹ về phong tục, tập quán của người Việt
Nam thông qua báo chí, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và Đại sứ
quán Việt Nam tại nước ông. Nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng, ông đã tạo được thiện
cảm với phía đối tác Việt Nam.
Chưa được trang bị đầy đủ các kỹ năng đàm phán
Một trong những điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam, đó là các đàm phán
viên chưa được trang bị đầy đủ các kỹ năng đàm phán. Họ thường thiếu
linh hoạt trong việc tìm kiếm các giải pháp mới và thường quá tập trung
vào vấn đề đang được đàm phán mà quên đi một phần rất quan trọng của quá
trình đàm phán là tạo dựng được một bầu không khí mang tính hợp tác và
chia sẻ, cảm thông.
Do không chuẩn bị kỹ lưỡng, các doanh nghiệp thường không có chiến lược
đàm phán hiệu quả cũng như các kịch bản tình huống dự phòng.
Trong các cuộc đàm phán với ba đối tác Việt Nam, ông chủ tịch công ty
nói trên đã chuẩn bị rất nhiều phương án tình huống khác nhau cho từng
đối tác. Cách ông đặt vấn đề và tiếp cận từng đối tác cũng không giống
nhau. Trong khi đó, các đối tác Việt Nam hoàn toàn không có các kịch bản
dự phòng.
Một công ty tham dự đàm phán với thái độ cứng nhắc và những điều kiện
của họ gần như là bất di bất dịch, ngay cả với những điểm ít quan trọng
có thể thỏa hiệp được. Họ luôn có thái độ e ngại khi phía đối tác nước
ngoài đưa ra các yêu cầu mới. Điều này đã gây cho phía đối tác nước
ngoài ấn tượng không tốt về tính chuyên nghiệp và khả năng thích ứng
trong kinh doanh.
Trong khi ấy, một doanh nghiệp khác đã dễ dàng chấp nhận điều kiện của
ông đưa ra sau khi mặc cả... lấy lệ. Sau buổi đàm phán, ông chủ tịch cho
biết kết quả đạt được vượt xa mọi dự kiến của ông, vì ông nghĩ sẽ phải
mất nhiều thời gian để “kì kèo mặc cả” về các điều kiện.
Phân tán vì lợi ích cá nhân
Trong một vài cuộc đàm phán khác, các thành viên của phía đối tác Việt
Nam cũng thường bị phân tán bởi lợi ích cá nhân như các chuyến đi khảo
sát, phần trăm hoa hồng của các hợp đồng hoặc vị trí trong liên doanh.
Chính vì những lợi ích cá nhân này mà đôi khi các nhà đàm phán đã đặt
bút ký vào những hợp đồng với các điều khoản có lợi cho phía đối tác
nước ngoài. Thường tình huống này hay xảy ra với các doanh nghiệp nhà
nước hơn là các doanh nghiệp tư nhân hay cổ phần.
![]() |
Với triển vọng gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới trong một tương lai
gần, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội mở rộng các quan hệ
hợp tác kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, để tận dụng các cơ hội, doanh
nghiệp cần phải nâng cao năng lực, trong đó có việc nâng cao hiệu quả
của các cuộc đàm phán kinh doanh. Cần có thái độ nhìn nhận nghiêm túc về
tầm quan trọng của các cuộc đàm phán, phải xem đàm phán như là mắt xích
quan trọng trong các hoạt động kinh doanh, cần chuẩn bị tốt về nhân lực
và thu thập các thông tin cần thiết phục vụ cho cuộc đàm phán.
Trong quá trình đàm phán phải tranh thủ để tạo dựng mối quan hệ tốt với
đối tác, phải linh hoạt và có các kịch bản tình huống dự phòng. Nên đề
ra các mục tiêu cần đạt được theo thứ tự ưu tiên để khi cần thiết có
những bước nhân nhượng hợp lý mà vẫn không bị rơi vào thế bị động.
Công tác chuẩn bị tốt với các mục tiêu được xác định rõ ràng sẽ giúp
doanh nghiệp giảm thiểu được tình trạng tiêu cực có thể phát sinh trong
quá trình đàm phán. Một cuộc đàm phán được coi là thành công nếu như cả
hai phía đều cảm thấy mình được nhiều hơn mất, hai bên cùng tạo dựng
được một sự thông cảm, tin tưởng lẫn nhau và quyết tâm hợp tác vì lợi
ích chung.
Copyright © 2010 DiaOc3Mien Corp. ® Ghi rõ nguồn "DiaOc3Mien.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.
Trang web đang chạy thử nghiệm trong thời gian chờ cấp phép phát hành